Lễ Xã mùa xuân và mùa thu

Tôn kính đất nuôi sống cộng đồng

Lễ Xã (社) tôn kính đất đai mà sinh kế cộng đồng phụ thuộc vào. Xã có thể chỉ thần đất, đàn nơi dâng lễ và cộng đồng quy tụ quanh việc thờ cúng ấy. Hai dịp xuân và thu đem lại nhịp theo mùa cho mối quan hệ này: mùa xuân cầu một vụ gieo trồng tốt, còn mùa thu tạ ơn vì sản lượng thu được.

Lời cầu mưa thuận, cây trồng khỏe và tránh tai họa khiến lễ xuân trở thành sự chuẩn bị cho công việc sắp tới. Lễ thu ghi nhận mùa màng và sự nuôi dưỡng tiếp tục của đất. Những mục đích ấy thuộc về trải nghiệm làm nông, dù thời vụ từng cây trồng và hình thức thờ cúng khác nhau giữa các cộng đồng.

Nơi dâng lễ có thể là đàn, miếu địa phương hoặc khoảng đất gắn với một cây. Cuộc tụ họp nối bổn phận tôn giáo với sinh hoạt xã hội của hàng xóm. Mọi người góp thức ăn hay nguồn lực khác, cùng thờ cúng rồi ăn chung. Tôn kính đất cũng khẳng định quan hệ giữa những người sống và làm việc trên đó.

Từ đàn thờ đất đến hội làng

Thờ đất và ngũ cốc giữ vị trí quan trọng trong nghi lễ nhà nước Trung Quốc thời kỳ đầu. Đàn của nhà vua thể hiện trách nhiệm đối với đất đai và dân chúng. Lễ Xã địa phương diễn ra ở quy mô nhỏ hơn, đưa các gia đình lân cận đến nơi dâng lễ riêng. Nghi lễ triều đình và hội làng cùng quan tâm đến nông nghiệp nhưng không có nghi thức hay tổ chức giống hệt nhau.

Đến thế kỷ VI, những mô tả về lễ Xã cho thấy hàng xóm dâng lễ dưới một cây rồi chia nhau thức ăn tế. Thời Đường, Xuân Xã và Thu Xã là những dịp quan trọng ở làng, có thờ cúng, tiệc và giải trí. Âm nhạc, trống và, trong các truyền thống về sau, sân khấu có thể vừa hướng đến vị thần vừa quy tụ người dân thành khán giả.

Ngày dùng cho những lễ này thay đổi theo thời kỳ và địa phương. Quy tắc ngày Mậu (戊) thứ năm mà nhiều hoàng lịch sử dụng là một cách xác định chúng trong năm theo mùa. Không nên áp ngược quy tắc ấy như thể đó là lệ bất biến cho mọi lễ Xã trong lịch sử.

Chia lễ vật và bữa ăn

Ăn chung là trọng tâm của lễ Xã. Thức ăn trước tiên dâng cúng có thể được chia cho người tham gia, nên nhận một phần nối gia đình với cuộc tụ họp lớn hơn. Ngũ cốc, rượu và thịt xuất hiện trong ghi chép lịch sử, còn quy mô tiệc tùy vào những gì cộng đồng đóng góp. Bữa ăn khiến lợi ích mong cầu trong nghi lễ trở nên cụ thể qua thức ăn được phân phát và cùng thưởng thức.

Lễ thu còn có thể mở rộng qua thăm hỏi và quà tặng. Mô tả thời Tống ghi nhận trao bánh và rượu, bữa ăn đặc biệt và những cuộc gặp giữa họ hàng, hàng xóm. Lòng tạ ơn được thể hiện qua tiếp đãi cũng như lễ vật tại đàn.

Xã phạn, tức “cơm lễ Xã”, tạo cho món ăn chung này một hình thức địa phương ở một số vùng phía tây Hồ Nam. Gia đình người Thổ Gia và người Miêu nấu cơm với rau cỏ mùa xuân, thịt lợn ướp và những nguyên liệu khác, rồi đổi từng phần với hàng xóm.

Quy tắc ngày Mậu thứ năm của Atlas

Atlas đếm bao gồm ngày mốc: ngày Mậu đầu tiên rơi vào hoặc sau ngày dân sự có tiết khí được tính là lần thứ nhất. Lần thứ năm là ngày Xã.

Lễ tiếtTiết khí làm mốcNgày thỏa điều kiện
Xuân XãLập Xuân, LichunNgày Mậu thứ năm tính từ và bao gồm ngày dân sự có tiết khí
Thu XãLập Thu, LiqiuNgày Mậu thứ năm tính từ và bao gồm ngày dân sự có tiết khí

Mậu ở đây là thiên can thứ năm. Nó khác với địa chi thứ bảy, Ngọ, gắn với con Ngựa, cũng được viết là wu khi bỏ dấu thanh trong bính âm. Can của ngày lặp lại sau mỗi mười ngày; Mậu không phải tên một thứ trong tuần.

Gọi D là ngày Mậu đầu tiên thỏa điều kiện, toàn bộ phép đếm là:

Lần đếmNgày tính tương đối từ ngày Mậu đầu tiên thỏa điều kiện
Thứ nhấtD
Thứ haiD + 10 ngày
Thứ baD + 20 ngày
Thứ tưD + 30 ngày
Thứ năm: ngày XãD + 40 ngày

Ngày Mậu có tiết khí được tính vào. Vì thế, mốc ngày 4 tháng 2 năm 2024 cho Xuân Xã vào ngày 15 tháng 3, còn mốc ngày 7 tháng 8 năm 2025 cho Thu Xã vào ngày 16 tháng 9. Cả hai ngày mốc đều là ngày Mậu có tiết khí tương ứng. Đếm chỉ từ sau một ngày Mậu có tiết khí sẽ cho kết quả muộn hơn mười ngày. Quy ước tính cả ngày mốc xác định phép tính của Atlas; lịch nghi lễ địa phương có thể theo cách sắp xếp khác.

Công nguyên 1–2100

Chính sách quyền riêng tư